Bài viết liên quan
Mô hình ARIMA
ARIMA Model
Mô hình ARIMA là gì?
Mô hình ARIMA (AutoRegressive Integrated Moving Average) là mô hình dự báo chuỗi thời gian kết hợp ba thành phần: tự hồi quy (AR), sai phân (I) và trung bình động (MA). Mô hình được ký hiệu ARIMA(p,d,q) trong đó p là bậc tự hồi quy, d là bậc sai phân, q là bậc trung bình động. Mô hình do Box và Jenkins đề xuất năm 1970 và hiện là công cụ chuẩn trong phân tích, dự báo kinh tế - tài chính, kế toán quản trị tại các ngân hàng Việt Nam.
Đặc điểm
- Yêu cầu chuỗi phải dừng (stationary) hoặc phải sai phân bậc d để đưa về chuỗi dừng theo kiểm định Augmented Dickey-Fuller.
- Xác định p, q thông qua hàm tự tương quan ACF và PACF, đánh giá mô hình bằng tiêu chí AIC, BIC.
- Kiểm định phần dư bằng Ljung-Box test để đảm bảo phần dư là nhiễu trắng.
- Phù hợp dự báo các chỉ tiêu thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia quy định tại Quyết định 43/2016/QĐ-TTg.
- Được NHNN Việt Nam khuyến khích áp dụng trong mô hình quản trị rủi ro theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN và chuẩn Basel II.
Ví dụ
Một ngân hàng thương mại cổ phần tại TP.HCM sử dụng ARIMA(1,1,1) để dự báo số dư tiền gửi khách hàng cá nhân 6 tháng tiếp theo, phục vụ công tác lập kế hoạch huy động vốn và quản lý thanh khoản. Mô hình đạt sai số RMSE dưới 5%, đáp ứng yêu cầu kiểm soát nội bộ và chuẩn báo cáo tài chính theo Thông tư 49/2014/TT-NHNN.