Bài viết liên quan
Kế toán
Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Credit Risk Provisioning
Là hoạt động TCTD phải thực hiện theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN để dự phòng cho tổn thất tiềm ẩn từ các khoản nợ, với tỷ lệ trích lập tăng dần theo mức độ rủi ro: 0% (Nhóm 1), 5% (Nhóm 2), 20% (Nhóm 3), 50% (Nhóm 4) và 100% (Nhóm 5). Việc trích lập phải được thực hiện định kỳ hàng quý và phải đảm bảo hoàn thành trước ngày 31/12 hàng năm theo quy định.
Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là gì?
Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là hoạt động bắt buộc mà tổ chức tín dụng (TCTD) phải thực hiện định kỳ nhằm dự phòng cho tổn thất tiềm ẩn từ các khoản nợ vay. Quy định chi tiết tại Điều 10, 11, 12 Thông tư 11/2021/TT-NHNN (thay thế Thông tư 02/2013/TT-NHNN) và Thông tư 48/2019/TT-NHNN.
Đặc điểm
- Phân loại nợ 5 nhóm: Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) - trích 0%; Nhóm 2 (nợ cần chú ý) - trích 5%; Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) - trích 20%; Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) - trích 50%; Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) - trích 100%.
- Thời hạn trích lập: thực hiện hàng quý, hoàn thành trước ngày 31/12 hàng năm, ghi nhận vào chi phí hoạt động.
- Nguyên tắc: trích lập theo phương pháp trượt (rolling) dựa trên số dư nợ và phân loại nợ cuối kỳ.
- Sử dụng quỹ: dùng để xử lý rủi ro khi khoản nợ được xác định mất vốn hoặc xóa nợ theo quy định.
- Tuân thủ: nguyên tắc thận trọng trong kế toán theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS).
Ví dụ
Ngân hàng Y có khoản nợ cho vay doanh nghiệp 10 tỷ đồng, bị xếp Nhóm 3 do quá hạn từ 90 đến dưới 180 ngày. Cuối quý 4, ngân hàng phải trích lập: 10 tỷ × 20% = 2 tỷ đồng vào quỹ dự phòng rủi ro tín dụng, ghi tăng chi phí hoạt động và giảm lợi nhuận trước thuế tương ứng.