messenger

Chat Mess

zalo

Chat Zalo

phone

Phone

Gọi ngay: 097.5151.777
messenger

Facebook

messenger

TikTok

Hỗ trợ tư vấn: 097.5151.777
Quản trị rủi ro

EAD – Mức phơi nhiễm tại thời điểm vỡ nợ

Exposure at Default (EAD)

EAD là tổng mức phơi nhiễm tín dụng ước tính của ngân hàng tại thời điểm khách hàng vỡ nợ, bao gồm dư nợ gốc, lãi dồn tích và các khoản phải thu. Với cam kết ngoại bảng, EAD được tính bằng cách áp dụng hệ số chuyển đổi tín dụng CCF cho phần chưa sử dụng.

EAD (Exposure at Default) là gì?

EAD là tổng mức phơi nhiễm tín dụng ước tính tại thời điểm khách hàng vỡ nợ, bao gồm dư nợ gốc + lãi dồn tích + phí chưa thu + các khoản phải thu. Đối với các cam kết ngoại bảng (bảo lãnh, L/C, hạn mức tín dụng chưa sử dụng), EAD được tính bằng dư nợ hiện tại cộng phần cam kết chưa rút vốn nhân với hệ số chuyển đổi tín dụng (Credit Conversion Factor – CCF). Đây là tham số thứ ba trong công thức EL = PD × LGD × EAD.

Công thức tính EAD theo loại sản phẩm

  • Cho vay thông thường: EAD = Dư nợ gốc + Lãi phải thu + Phí
  • Bảo lãnh / L/C: EAD = Giá trị cam kết × CCF
  • Hạn mức revolving (tín dụng quay vòng): EAD = Dư nợ hiện tại + (Hạn mức khả dụng × CCF)

Hệ số CCF theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN

  • Bảo lãnh vay vốn: CCF = 100%
  • Bảo lãnh thanh toán: CCF = 50%
  • Thư tín dụng (L/C) nhập khẩu: CCF = 20%–50%
  • Cam kết cho vay chưa rút vốn với doanh nghiệp: CCF = 50%–75%
  • Hạn mức thẻ tín dụng chưa sử dụng: CCF = 75%

Ví dụ minh họa tổng hợp

Doanh nghiệp C được cấp hạn mức tín dụng 50 tỷ đồng, đã sử dụng 30 tỷ, còn khả dụng 20 tỷ. Áp dụng CCF = 75%, EAD = 30 + (20 × 75%) = 45 tỷ đồng. Với PD = 5% và LGD = 40%, tổn thất tín dụng kỳ vọng EL = 5% × 40% × 45 tỷ = 900 triệu đồng – đây chính là cơ sở để ngân hàng trích lập dự phòng cụ thể cho khoản vay này.