Bài viết liên quan
Bao thanh toán
Factoring
Bao thanh toán (Factoring) là gì?
Theo Điều 2 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 17/2020/NĐ-CP và các quy định liên quan của Ngân hàng Nhà nước, bao thanh toán là hoạt động tài chính trong đó bên bán (doanh nghiệp) chuyển giao các khoản phải thu từ hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho ngân hàng để nhận tiền trước. Ngân hàng đóng vai trò là bên bao thanh toán (factor), tiếp quản quyền đòi nợ và thu hồi khoản phải thu từ bên mua.
Đặc điểm
- Các bên tham gia: Bên bán (Factor's client), Bên mua (Debtor) và Bên bao thanh toán là ngân hàng hoặc công ty tài chính (Factor).
- Hai hình thức chính: Bao thanh toán có quyền truy đòi (Recourse factoring - ngân hàng được quyền yêu cầu bên bán hoàn trả nếu bên mua không trả nợ) và bao thanh toán không quyền truy đòi (Non-recourse factoring).
- Phạm vi áp dụng: Doanh nghiệp có khoản phải thu thương mại từ khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Phí và lãi suất: Bao gồm phí quản lý, lãi chiết khấu và hoa hồng bảo lãnh, tổng chi phí tuân thủ quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
- Tỷ lệ chiết khấu: Thường 70-90% giá trị khoản phải thu, phần còn lại được thanh toán sau khi thu hồi nợ thành công.
Ví dụ
Công ty TNHH D bán linh kiện điện tử cho Công ty E với giá trị 2 tỷ đồng, thời hạn thanh toán 90 ngày. Để bổ sung vốn lưu động, Công ty D chuyển nhượng khoản phải thu này cho Ngân hàng Q theo hình thức bao thanh toán có quyền truy đòi, mức chiết khấu 85%, nhận ngay 1,7 tỷ đồng. Sau 90 ngày, Ngân hàng Q thu 2 tỷ đồng từ Công ty E; nếu Công ty E mất khả năng thanh toán, Ngân hàng Q có quyền truy đòi Công ty D theo hợp đồng bao thanh toán đã ký.