Bài viết liên quan
EAD - Giá trị phơi nhiễm khi vỡ nợ
Exposure at Default
EAD - Giá trị phơi nhiễm khi vỡ nợ là gì?
EAD (Exposure at Default) là tổng mức phơi nhiễm mà ngân hàng dự kiến phải gánh chịu đối với một khách hàng tại thời điểm vỡ nợ xảy ra. EAD bao gồm toàn bộ dư nợ gốc, lãi chưa thanh toán, phí và cả phần hạn mức tín dụng chưa sử dụng nhưng có khả năng được khách hàng rút ra trước hoặc tại thời điểm vỡ nợ. EAD là một trong ba tham số quan trọng (PD, LGD, EAD) để tính khoản lỗ kỳ vọng (EL = PD × LGD × EAD) và vốn yêu cầu cho rủi ro tín dụng theo phương pháp IRB.
Đặc điểm
- Đối với khoản vay có kỳ hạn cố định: EAD thường bằng dư nợ gốc cộng lãi tích lũy tại thời điểm vỡ nợ.
- Đối với hạn mức tín dụng luân chuyển (revolving credit): EAD được điều chỉnh bằng hệ số chuyển đổi tín dụng (CCF) theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN về tỷ lệ an toàn vốn.
- Đối với cam kết cho vay chưa giải ngân: chỉ phần có khả năng rút vốn mới được tính vào EAD.
- Được ước tính theo phương pháp nội bộ dựa trên dữ liệu lịch sử vỡ nợ của ngân hàng.
Ví dụ
Ngân hàng A cấp cho doanh nghiệp B hạn mức tín dụng luân chuyển 10 tỷ đồng. Tại thời điểm khảo sát, doanh nghiệp B đã sử dụng 6 tỷ đồng. Trước khi vỡ nợ, doanh nghiệp có thể rút thêm 2 tỷ từ phần hạn mức còn lại. Khi đó EAD = 6 tỷ (đã sử dụng) + 2 tỷ (ước tính rút thêm) = 8 tỷ đồng, trong đó 2 tỷ được tính theo CCF = 50% áp dụng cho phần cam kết chưa sử dụng theo quy định tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN.