Bài viết liên quan
ccf
Credit Conversion Factor (CCF)
CCF là gì?
CCF (Credit Conversion Factor - Hệ số chuyển đổi tín dụng) là hệ số dùng để quy đổi các khoản mục ngoại bảng cân đối kế toán (như bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng dự phòng, cam kết cho vay chưa sử dụng) thành giá trị phơi nhiễm tín dụng tương đương (Credit Equivalent Amount). Hệ số này phản ánh xác suất một khoản cam kết ngoại bảng sẽ được rút vốn và trở thành nghĩa vụ nợ thực tế.
Theo khung Basel II và được quy định tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN về tỷ lệ an toàn vốn, việc tính toán tổng dư nợ có rủi ro tín dụng (EAD) của ngân hàng phải sử dụng CCF cho các khoản mục ngoại bảng.
Đặc điểm
- CCF được quy định cụ thể theo từng loại cam kết: bảo lãnh tài chính, L/C, cam kết cho vay, hạn mức tín dụng chưa sử dụng
- CCF càng cao thì giá trị phơi nhiễm quy đổi càng lớn
- Theo Basel II: bảo lãnh tài chính có CCF = 100%; cam kết cho vay dưới 1 năm có thể hủy vô điều kiện CCF = 20%, các trường hợp khác = 50%
- Là đầu vào quan trọng để tính vốn yêu cầu tối thiểu cho rủi ro tín dụng theo phương pháp tiêu chuẩn
Ví dụ
Ngân hàng A cấp hạn mức tín dụng chưa sử dụng 10 tỷ đồng cho doanh nghiệp B, có thể hủy vô điều kiện bất kỳ lúc nào. Với CCF = 20%, giá trị phơi nhiễm tín dụng quy đổi là 10 tỷ × 20% = 2 tỷ đồng, được đưa vào EAD để tính vốn yêu cầu theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN. Nếu cùng cam kết đó là bảo lãnh tài chính (CCF = 100%), EAD = 10 tỷ đồng.