Bài viết liên quan
Gone concern (Giả định không còn hoạt động liên tục)
Gone Concern
Gone concern là gì?
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 1 và Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Việt Nam VAS 21 (Thông tư 200/2014/TT-BTC), kế toán viên phải đánh giá khả năng hoạt động liên tự của doanh nghiệp trong tương lai ít nhất 12 tháng. Khi khả năng này không còn, đơn vị được coi là gone concern và các nguyên tắc kế toán thay đổi căn bản.
Khác biệt cốt lõi giữa Going Concern và Gone Concern
- Going Concern: tài sản ghi nhận theo giá gốc (historical cost), phân bổ khấu hao theo thời gian hữu dụng, thu nhập ghi nhận khi phát sinh
- Gone Concern: tài sản ghi nhận theo giá thị trường trừ chi phí thanh lý, không phân bổ khấu hao, các khoản nợ phải trả ghi nhận đầy đủ ngay cả khi chưa đến hạn
Dấu hiệu nhận biết gone concern tại ngân hàng
- CAR (tỷ lệ an toàn vốn) dưới mức tối thiểu 4,5% theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN
- NPL (nợ xấu) trên 10% tổng dư nợ, đặc biệt nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)
- Lỗ luỹ kế vượt 50% vốn điều lệ
- Ngân hàng bị NHNN đặt vào kiểm soát đặc biệt theo Điều 130 Luật Các TCTD 2010
- Đã có quyết định thu hồi giấy phép hoặc phá sản
Ảnh hưởng đến các khoản mục
- Khoản vay: được ghi nhận theo FVLCS, tức giá trị có thể thu hồi khi bán nợ cho VAMC, AMC hoặc qua đấu giá công khai
- TSCĐ: ghi giảm ngay về giá thanh lý ước tính, có thể giảm 30-70% so với giá sổ sách
- Hợp đồng thuê: phân bổ toàn bộ chi phí thuê phạt và nghĩa vụ tài chính còn lại
Ví dụ thực tế tại Việt Nam
Khi Ngân hàng Đông Á bị NHNN mua lại bắt buộc vào tháng 8/2015, các báo cáo tài chính cuối cùng được kiểm toán theo giả định gone concern: dư nợ cho vay 18.500 tỷ VNĐ được hạ xuống còn 8.200 tỷ VNĐ sau khi trích lập dự phòng theo giá bán nợ; tài sản cố định 17 chi nhánh được định giá lại theo thị trường, khoản lỗ luỹ kế cuối cùng ghi nhận hơn 30.000 tỷ VNĐ.