Bài viết liên quan
Người có liên quan tại tổ chức tín dụng
Related Parties at Credit Institutions
Người có liên quan tại tổ chức tín dụng là ai?
Người có liên quan (related parties) là khái niệm pháp lý then chốt trong giới hạn sở hữu cổ phần tại TCTD. Theo Điều 4 Luật TCTD 2024 và Thông tư hướng dẫn, người có liên quan bao gồm các đối tượng có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với cổ đông, có khả năng chi phối quyết định đầu tư.
Các nhóm người có liên quan chính
- Nhóm gia đình: vợ/chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh/chị/em ruột, anh/chị/em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, ông bà nội/ngoại, cháu nội/ngoại ruột.
- Nhóm tổ chức: công ty mẹ, công ty con, công ty liên kết theo Luật Doanh nghiệp; tổ chức có cùng cá nhân sở hữu trên 10% vốn điều lệ.
- Nhóm quản lý: cá nhân là thành viên HĐQT, Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc của tổ chức cổ đông; cá nhân sở hữu trên 5% vốn điều lệ của tổ chức cổ đông.
- Quan hệ ủy quyền/ủy thác: cá nhân, tổ chức được ủy quyền hoặc nhận ủy thác sở hữu cổ phần.
Vì sao quy định này quan trọng?
Khái niệm "người có liên quan" được lập ra để chống lại hành vi "núp bóng" — tức nhiều cá nhân/tổ chức khác nhau nhưng cùng do một người kiểm soát cùng mua cổ phần để lách ngưỡng 5% hoặc 10%. Nếu chỉ quy định giới hạn cá nhân/tổ chức riêng lẻ mà không cộng gộp người có liên quan, mục tiêu phân tán sở hữu sẽ bị vô hiệu hóa.
Ví dụ minh họa
Bà Nguyễn Thị C sở hữu 5% cổ phần Ngân hàng Y. Con trai bà C (anh Nguyễn Văn D) sở hữu 4%, em trai bà C sở hữu 4%, Công ty TNHH do bà C làm chủ sở hữu sở hữu 5%. Tổng sở hữu của bà C + người có liên quan = 18%, vượt ngưỡng 15% → phần vượt 3% phải được chuyển nhượng trong thời hạn luật định.
Trách nhiệm công bố thông tin
TCTD phải yêu cầu cổ đông lớn (sở hữu từ 1% trở lên) kê khai đầy đủ thông tin về người có liên quan; tổng hợp, báo cáo NHNN khi phát hiện dấu hiệu vượt mức.