Bài viết liên quan
Mô hình CAPM
Capital Asset Pricing Model
Mô hình CAPM là gì?
Mô hình CAPM (Capital Asset Pricing Model) được William Sharpe công bố năm 1964 trên tạp chí Journal of Finance, đồng thời được John Lintner (1965) và Jan Mossin (1966) phát triển độc lập. Năm 1990, Sharpe nhận giải Nobel Kinh tế nhờ công trình này. CAPM thiết lập mối quan hệ tuyến tính giữa rủi ro hệ thống (đo bằng beta) và lợi nhuận kỳ vọng của một tài sản, đồng thời là nền tảng cho định giá doanh nghiệp và quản trị danh mục đầu tư hiện đại.
Công thức tổng quát
E(Ri) = Rf + βi × [E(Rm) – Rf]
- Rf: Lãi suất phi rủi ro, thường dùng lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam kỳ hạn 10 năm (năm 2024 khoảng 2,8–3,2%/năm theo Kho bạc Nhà nước).
- βi: Hệ số beta của tài sản i, đo mức độ nhạy với biến động thị trường.
- E(Rm) – Rf: Phần bù rủi ro thị trường (Market Risk Premium – MRP). Tại Việt Nam, MRP ước tính 7–9% theo nghiên cứu của FiinGroup và SSI Research giai đoạn 2020–2024.
Các giả định của mô hình
- Nhà đầu tư hợp lý, ghét rủi ro (risk-averse), lựa chọn danh mục theo kỳ vọng – phương sai.
- Thị trường vốn hoàn hảo: không có chi phí giao dịch, thuế và hạn chế đầu tư.
- Có thể vay hoặc cho vay với lãi suất phi rủi ro Rf.
- Đồng nhất về kỳ hạn đầu tư, kỳ vọng và thông tin.
Ứng dụng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, CAPM được UBCKNN, các công ty chứng khoán và công ty kiểm toán Big 4 sử dụng để tính chi phí vốn chủ sở hữu (Ke) trong định giá doanh nghiệp bằng phương pháp DCF. Ví dụ: Cổ phiếu VPB có β ≈ 1,15; nếu Rf = 3% và MRP = 8%, chi phí vốn = 3% + 1,15 × 8% = 12,2%/năm. Hạn chế của CAPM tại thị trường mới nổi như Việt Nam là chuỗi dữ liệu lịch sử ngắn, thanh khoản thấp và biến động cao, khiến beta ước lượng thiếu ổn định. Một số mô hình mở rộng như Fama-French 3 yếu tố hoặc mô hình của Pastor-Stambaugh được khuyến nghị bổ sung cho thị trường Việt Nam.