Bài viết liên quan
Tín dụng
Mệnh giá chiết khấu
Face value / Par value of discounted papers
Là giá trị danh nghĩa ghi trên giấy tờ có giá hoặc thương phiếu, là số tiền sẽ được thanh toán khi đến hạn và là cơ sở để TCTD tính toán khoản cho vay chiết khấu. Theo Thông tư 04/2013/TT-NHNN, số tiền chiết khấu thực tế khách hàng nhận được bằng mệnh giá trừ đi phần lãi chiết khấu và các chi phí liên quan. Mệnh giá phải được xác định rõ ràng, không bị sửa chữa, tẩy xóa và phải phù hợp với giá trị thực của giao dịch phát sinh.
Mệnh giá chiết khấu (Face value / Par value) là gì?
Theo Thông tư 04/2013/TT-NHNN về cho vay chiết khấu giấy tờ có giá, mệnh giá chiết khấu là giá trị danh nghĩa ghi trên giấy tờ có giá hoặc thương phiếu, là số tiền sẽ được thanh toán khi đến hạn và là cơ sở để tổ chức tín dụng (TCTD) tính toán khoản cho vay chiết khấu.
Đặc điểm
- Giá trị tham chiếu: Mệnh giá là số tiền mặt sẽ được trả cho người sở hữu giấy tờ có giá khi đáo hạn.
- Cơ sở tính chiết khấu: Số tiền cho vay = Mệnh giá - Lãi chiết khấu - Phí cam kết - Chi phí giao dịch khác.
- Yêu cầu pháp lý: Mệnh giá phải xác định rõ ràng, không bị sửa chữa, tẩy xóa, phù hợp với giá trị giao dịch phát sinh.
- Loại giấy tờ áp dụng: Tín phiếu, hối phiếu, séc, kỳ phiếu, trái phiếu có thời hạn thanh toán còn lại dưới 12 tháng.
Ví dụ
Doanh nghiệp A sở hữu tín phiếu có mệnh giá 500 triệu đồng, đáo hạn sau 6 tháng, mang đến Ngân hàng X chiết khấu với lãi suất 8%/năm. Tiền cho vay nhận được = 500 triệu - (500 triệu × 8% × 6/12) = 500 triệu - 20 triệu = 480 triệu đồng. Khi đến hạn, ngân hàng thu 500 triệu từ tổ chức phát hành.