Bài viết liên quan
Lợi nhuận trên vốn điều chỉnh rủi ro
Risk-Adjusted Return on Capital (RAROC)
Phương pháp RAROC trong quản trị rủi ro ngân hàng
RAROC được ngân hàng Bankers Trust (Mỹ) phát triển vào những năm 1990, sau đó được áp dụng rộng rãi toàn cầu và là nền tảng của khuôn khổ Basel II/III cũng như quy định của NHNN Việt Nam tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN về hệ thống xếp hạng nội bộ và Thông tư 41/2016/TT-NHNN (nay là Thông tư 17/2024/TT-NHNN) về tỷ lệ an toàn vốn.
Công thức tính
RAROC = (Doanh thu – Chi phí hoạt động – Kỳ vọng tổn thất EL – Chi phí vốn kinh tế EC) / Vốn kinh tế (Economic Capital)
- Kỳ vọng tổn thất (EL): PD × LGD × EAD – trích từ doanh thu hoặc dự phòng.
- Vốn kinh tế (EC): vốn nội bộ để bù đắp tổn thất bất ngờ (UL) với độ tin cậy 99,9% trong 1 năm theo Basel III.
- Ngưỡng chuẩn (Hurdle Rate): 15–20%/năm đối với doanh nghiệp lớn, 12–15% với khách hàng cá nhân tại các NHTM Việt Nam.
Ví dụ số minh họa
Một khoản cho vay doanh nghiệp 100 tỷ đồng, lãi suất 10%/năm, EL = 3%, EC = 8%, chi phí vốn 6%. Doanh thu = 10 tỷ; EL = 3 tỷ; Chi phí vốn = 0,08 × 100 tỷ × 6% = 0,48 tỷ; Chi phí hoạt động = 0,5 tỷ. RAROC = (10 – 3 – 0,5 – 0,48) / 8 = 75,25% – vượt ngưỡng 15%, khoản vay được chấp nhận.
Ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam
Các ngân hàng như Vietcombank, Techcombank, MB áp dụng RAROC để: (i) định giá chuyển vốn nội bộ (FTP); (ii) phân bổ vốn kinh tế cho từng chi nhánh; (iii) quyết định cấp tín dụng theo Thông tư 22/2023/TT-NHNN quy định giới hạn tín dụng; (iv) đánh giá hiệu quả hoạt động gắn với lương KPI của bộ phậm ALCO.
So sánh RAROC với ROE truyền thống
- ROE dùng vốn chủ sở hữu kế toán → bỏ qua rủi ro.
- RAROC dùng vốn kinh tế → đo lường công bằng giữa các bộ phận có rủi ro khác nhau.