Bài viết liên quan
Hiệu quả chi phí (Cost Efficiency)
Cost Efficiency
Hiệu quả chi phí ngân hàng là gì?
Hiệu quả chi phí (CE) được xác định bằng tỷ số: CE = Chi phí tối thiểu có thể (Cmin) / Chi phí thực tế (Cthực). Nếu CE = 1, ngân hàng hoạt động trên đường biên chi phí hiệu quả; CE < 1 cho thấy ngân hàng đang lãng phí một phần nguồn lực. Khái niệm này được Berger và Humphrey (1997) phổ biến rộng rãi trong giới tài chính ngân hàng.
Phương pháp đo lường
- Phương pháp phi tham số (DEA): ước lượng đường bao chi phí bằng quy hoạch tuyến tính.
- Phương pháp biên ngẫu nhiên (SFA): do Aigner, Lovell, Schmidt (1977) đề xuất, phân tách sai số thành phần bất hiệu quả và nhiễu ngẫu nhiên.
- Phương pháp phân phối tự do (DFA): không giả định phân phối của bất hiệu quả.
Chỉ tiêu thay thế thường dùng tại Việt Nam
Theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN và Quyết định 1600/QĐ-NHNN về hệ thống chỉ tiêu giám sát an toàn, NHNN sử dụng tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR - Cost-to-Income Ratio) làm chỉ tiêu chính. CIR = Tổng chi phí hoạt động / Tổng thu nhập hoạt động. Theo báo cáo NHNN, CIR bình quân hệ thống NHTM Việt Nam năm 2023 khoảng 45-50%; nhóm NHTM nhà nước thường ở mức 35-40%, trong khi NHTM cổ phần nhỏ có thể lên tới 60-70%.
Phân tách hiệu quả chi phí
Theo mô hình Farrell, hiệu quả chi phí = Hiệu quả kỹ thuật × Hiệu quả phân bổ. Ví dụ: Ngân hàng A có CE = 0,82, trong đó hiệu quả kỹ thuật = 0,90 và hiệu quả phân bổ = 0,91. Điều này nghĩa ngân hàng có thể giảm thêm 9% chi phí nếu sử dụng đúng tỷ lệ đầu vào tối ưu.