Bài viết liên quan
Hạn mức bảo hiểm tiền gửi
Deposit Insurance Coverage Limit
Hạn mức bảo hiểm tiền gửi là gì?
Hạn mức bảo hiểm tiền gửi là căn cứ quan trọng nhất để xác định quyền lợi của người gửi tiền khi TCTD bị phá sản hoặc mất khả năng chi trả. Theo quy định tại Điều 24 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 và Nghị định 68/2013/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 83/2016/NĐ-CP), từ ngày 24/12/2016, hạn mức BHTG tại Việt Nam là 75 triệu đồng cho mỗi cá nhân/tổ chức tại một TCTD.
Lịch sử điều chỉnh hạn mức
- Giai đoạn 1999 – 2005: 30 triệu đồng/người/TCTD.
- Giai đoạn 2005 – 2016: 50 triệu đồng/người/TCTD.
- Từ 24/12/2016 đến nay: 75 triệu đồng/người/TCTD.
- Dự kiến 2025: Nâng lên 125 triệu đồng theo dự thảo Luật sửa đổi (tương đương khoảng 5.000 USD).
Nguyên tắc áp dụng hạn mức
- Hạn mức áp dụng cho tổng hợp tất cả các khoản tiền gửi (gồm cả tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm, séc, chứng chỉ tiền gửi) của cùng một người gửi tiền tại cùng một TCTD.
- Tiền lãi phát sinh trên số dư tiền gửi được bảo hiểm cũng được tính trong hạn mức.
- Trường hợp người gửi tiền có tài khoản chung (đồng chủ tài khoản), hạn mức được chia đều cho các đồng chủ theo tỷ lệ sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
- Tiền gửi bằng ngoại tệ được quy đổi sang VND theo tỷ giá do NHNN công bố tại thời điểm phát sinh sự kiện bảo hiểm.
Ví dụ minh họa
Ông Nguyễn Văn A gửi tiết kiệm tại Ngân hàng X với tổng số dư 200 triệu đồng trên 3 tài khoản. Nếu Ngân hàng X bị thu hồi giấy phép, ông A được DIV chi trả tối đa 75 triệu đồng. Phần còn lại 125 triệu đồng được thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Luật Phá sản 2014: phí tổn quản lý tài sản, nghĩa vụ nợ lương, bảo hiểm xã hội, các chủ nợ có bảo đảm...
Ý nghĩa và xu hướng quốc tế
Theo khuyến nghị của IADI và IMF, hạn mức BHTG nên tương đương 2-3 lần GDP bình quân đầu người. Việc điều chỉnh nâng hạn mức lên 125 triệu đồng dự kiến sẽ giúp tăng độ bao phủ từ khoảng 90% lên trên 95% số người gửi tiền, qua đó củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng Việt Nam.