Bài viết liên quan
Giới hạn sở hữu cổ phần tại tổ chức tín dụng
Share Ownership Limits at Credit Institutions
Giới hạn sở hữu cổ phần tại tổ chức tín dụng là gì?
Là quy định tại Điều 31 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (Luật số 32/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024), giới hạn tỷ lệ cổ phần mà một chủ thể được phép nắm giữ tại một TCTD. Đây là công cụ pháp lý quan trọng để kiểm soát tập trung sở hữu, phân tán rủi ro và ngăn chặn các hành vi thao túng ngân hàng.
Ba ngưỡng sở hữu cụ thể
- Cá nhân: tối đa 5% vốn điều lệ của TCTD (khoản 1 Điều 31).
- Tổ chức: tối đa 10% vốn điều lệ của TCTD (khoản 2 Điều 31).
- Cổ đông và người có liên quan: tổng cộng tối đa 15% vốn điều lệ (khoản 3 Điều 31).
Trường hợp loại trừ (không áp dụng giới hạn)
- Chính phủ mua cổ phần để xử lý TCTD yếu kém theo quyết định của Thủ tướng.
- Ngân hàng Nhà nước mua cổ phần trong quá trình cơ cấu lại hệ thống.
- Các TCTD thực hiện góp vốn, mua cổ phần theo chỉ đạo của NHNN trong trường hợp đặc biệt.
Ví dụ minh họa
Ông A là cá nhân, đã sở hữu 4% cổ phần Ngân hàng X. Vợ ông A sở hữu thêm 3% cổ phần ngân hàng này. Tổng sở hữu của cổ đông (ông A) và người có liên quan (vợ) là 7% — chưa vượt ngưỡng 15%, nên giao dịch hợp lệ. Tuy nhiên, nếu Công ty B (do ông A làm Chủ tịch HĐQT) cũng sở hữu 9% cổ phần Ngân hàng X, tổng cộng cổ đông + người có liên quan đã là 16% — vượt ngưỡng 15%, phần vượt phải được chuyển nhượng trong vòng 6 tháng.
Hậu quả pháp lý khi vượt mức
Cổ đông vượt mức không được thực hiện quyền biểu quyết đối với phần cổ phần vượt; phần vượt không được chia cổ tức, không được nhận cổ phiếu thưởng. Nếu không chuyển nhượng trong thời hạn, phần vượt sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.