Bài viết liên quan
Giá trị chịu rủi ro (VaR)
Value at Risk
Giá trị chịu rủi ro (VaR) là gì?
VaR (Value at Risk) trả lời câu hỏi: 'Trong điều kiện thị trường bình thường, danh mục có thể chịu tổn thất tối đa bao nhiêu trong N ngày tới với xác suất (1-α)?'. Theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ, ngân hàng thương mại Việt Nam phải tính VaR cho sổ kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán kinh doanh với confidence level tối thiểu 99% và horizon time 10 ngày.
Ba phương pháp tính VaR
- Phương pháp phương sai - hiệp phương sai (Variance-Covariance): giả định lợi nhuận danh mục phân phối chuẩn, VaR = Z(α) × σ × √t × V. Ví dụ: danh mục 100 tỷ đồng, σ hàng ngày 1,5%, confidence 99% (Z=2,33) → VaR 1 ngày = 2,33 × 1,5% × 100 tỷ = 3,495 tỷ đồng.
- Phương pháp mô phỏng lịch sử (Historical Simulation): sắp xếp lợi nhuận thực tế 250-500 ngày gần nhất, lấy phân vị thứ (1-α).
- Phương pháp Monte Carlo: mô phỏng hàng nghìn kịch bản ngẫu nhiên, phù hợp với danh mục có các sản phẩm phái sinh phi tuyến tính (option, swap).
Hạn chế của VaR
VaR không đo lường tổn thất vượt quá ngưỡng (tail risk). Ví dụ VaR 99% = 3,5 tỷ có nghĩa xác suất 1% ngày tổn thất vượt 3,5 tỷ, nhưng không cho biết mức tổn thất tối đa có thể là 10 tỷ hay 50 tỷ. Do đó các ngân hàng sử dụng thêm Expected Shortfall (ES) hay CVaR - tổn thất kỳ vọng có điều kiện khi vượt VaR - để khắc phục.
Kiểm định ngược (Backtesting)
Theo Thông tư 13/2018, ngân hàng phải đối chiếu VaR dự báo với lỗ/lãi thực tế ít nhất 250 ngày giao dịch. Vùng xanh theo khung Basel: số lần vượt VaR ≤ 4 lần/năm (confidence 99%). Nếu vượt nhiều hơn, NHNN yêu cầu nhân hệ số phạt lên hệ số vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường.
Ví dụ ứng dụng
Một ngân hàng có sổ kinh doanh ngoại tệ 500 tỷ đồng, VaR 1 ngày confidence 99% = 6 tỷ. Nếu giới hạn rủi ro (limit) ban hành là 8 tỷ thì tỷ lệ sử dụng = 75% - trong ngưỡng an toàn. Khi tỷ lệ sử dụng vượt 90%, Treasury phải thông báo cho ALCO và giảm quy mô vị thế.